12 tháng 3, 2008

Đối Đầu Bất Bạo Động: Bất Phục Tùng Dân Sự Trong Xã Hội Việt Nam Hiện Nay

Khi bất mãn những chính sách cai trị của một chế độ, người dân thường có cách phản ứng chống đối khác nhau. Những người can đảm và tích cực thì viết thỉnh nguyện thư, viết bài để trình bày quan điểm bất đồng của mình. Cao hơn một chút là tuyệt thực, tọa kháng hay là vận động nhiều người cùng cảnh ngộ tham gia biểu tình, đình công, lãng công để đòi những cơ quan liên hệ phải giải quyết. Những người dân bình thường, vì e ngại sự trả thù của công an mật vụ và vì những ràng buộc của gia đình và người thân xung quanh, đã giữ kín sự bất mãn trong lòng. Họ thuộc diện đa số và là đám đông thầm lặng vì chưa nhìn ra lối thoát của những phản kháng khi trong tay không có một vũ khí chống đỡ, nhưng sẵn sàng bùng nổ khi có yếu tố châm ngòi đúng lúc.

07 tháng 3, 2008

Đối Đầu Bất Bạo Động: Cuộc Đấu Tranh của Thánh Gandhi

Mahatma Gandhi còn gọi là Thánh Cam Địa, nguyên tên đầy đủ là Mohandas Karamachand Gandhi, sinh vào ngày 2 tháng 10 năm 1869 trong một gia đình theo Ấn Độ Giáo tại tỉnh Gujarat, Ấn Độ. Từ lúc lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập và đứng đầu đảng Quốc Dân Đại Hội Ấn (Indian National Congress) vào năm 1921, ông đã được dân Ấn tôn vinh với tên gọi là Mahatma có ý nghĩa là vĩ nhân hay đại nhân. Mặc dù ông không hài lòng với tên gọi này, nhưng đa số vì quý mến ông nên danh hiệu Mahatma Gandhi vẫn thường được dùng hơn là tên Mohandas Gandhi. Bằng phương pháp bất bạo động và bất hợp tác, Mahatma Gandhi đã lãnh đạo thành công phong trào đấu tranh giành độc lập cho Ấn Độ từ thực dân Anh (1914-1947); cũng như đã khích lệ hàng triệu người dân bị đô hộ khác đứng lên đấu tranh chống lại các chế độ thuộc địa, giành lại độc lập trong nhiều thập niên vừa qua. Mahatma Gandhi còn được biết đến như một nhà hiền triết với tư tưởng "bất bạo lực" hay còn gọi là "bất hại" dựa trên nền tảng "chấp trì chân lý", tiếng Phạn gọi là Satyagraha. Theo Gandhi, Chấp trì chân lý không phải là năng lực vật chất mà là một năng lực tâm linh thanh tịnh. Nó là thể chất của linh hồn. Linh hồn bao gồm trí huệ. Ngọn lửa của lòng từ bi bùng cháy trong nó. Nếu một người nào đó làm tổn thương ta vì vô minh thì ta thắng lại họ bằng tình thương. Bất bạo động hay bất hại là nguyên lý tối cao, dựa trên năng lực của lòng yêu thương . Một người tin vào chấp trì chân lý sẽ không bao giờ dùng bạo lực.

27 tháng 2, 2008

Đối Đấu Bất Bạo Động: Những Nhược Điểm Của Chế Độ Độc Tài.

Các chế độ độc tài không phải là một khối thuần nhất. Dù là độc tài cộng sản, độc tài quân phiệt, độc tài cá nhân... đều giống nhau ở điểm: dựa trên bạo lực để khống chế người dân. Bộ máy bạo lực này tập trung vào trong tay của một số người, mang những đặc tính: "dựa vào nhau để tồn tại, dè chừng nhau để thủ thân, tranh chấp nhau để thủ lợi" trong các cơ quan từ trung ương xuống đến địa phương, nên luôn luôn xảy ra những xung đột nội tại. Nhìn bề ngoài, với bộ máy công an, cảnh sát, mật vụ và những phương cách đàn áp tinh vi, người ta dễ có ấn tượng rằng các chế độ độc tài được tổ chức kiên cố và chặt chẽ; nhưng trong thực tế, bộ máy bạo lực này là tập hợp của nhiều cá nhân, với những tham vọng khác nhau. Quan tâm duy nhất của nhóm người này là thường xuyên và tùy tiện vơ vét ngân sách quốc gia, tài nguyên thiên nhiên và sức sản xuất nội địa nhằm phục vụ cho tham vọng riêng tư. Trong đấu tranh, ta phải nắm vững những cường điểm và nhược điểm của chế độ độc tài để có những biện pháp đối phó hiệu quả.

20 tháng 2, 2008

Đối Đầu Bất Bạo Động: Sự Phản Kháng Toàn Diện

Các chế độ độc tài tồn tại được chính yếu là nhờ nắm hầu hết quyền lực quốc gia trong tay. Người dân bị kiểm soát bao tử và toàn thể xã hội bị khống chế nên sức đề kháng thường rất yếu, và do đó mà của cải, tài sản, phương tiện đều tập trung vào trong tay một thiểu số lãnh đạo và thân nhân của họ. Mặc dù chế độ độc tài có bị chi phối bởi thế giới bên ngoài như nguồn lợi nhuận từ giao thương với các quốc gia hoặc chịu áp lực tẩy chay, phản đối của thế giới, nhưng sự sống còn của họ tùy thuộc vào yếu tố quốc nội. Đương nhiên, áp lực quốc tế vẫn có thể rất hiệu quả ở một số mặt như việc lên tiếng can thiệp về phương diện đàn áp nhân quyền, tôn giáo, và nhất là khi có một phong trào phản kháng mạnh mẽ ở trong nước. Những biện pháp tẩy chay, cấm vận, cắt đứt ngoại giao của thế giới lên chế độ độc tài lúc đó sẽ góp một phần trợ giúp rất lớn trong nỗ lực chấm dứt độc tài. Do đó, muốn vận động thế giới hỗ trợ mạnh mẽ chúng ta phải coi nỗ lực xây dựng phong trào phản kháng ngay tại quốc nội là then chốt. Để làm được điều này, Giáo sư Gene Sharp, một lý thuyết gia về Đối Đầu Bất Bạo Động đã đề nghị bốn việc:

14 tháng 2, 2008

Đối Đầu Bất Bạo Động: Sức Mạnh Của Số Đông

Khi bị áp bức, bóc lột, con người đương nhiên phải đối kháng. Đấu tranh là hình thức đối kháng dứt khoát và triệt để nhất vì nhắm tới mục tiêu chấm dứt tình trạng áp bức và bóc lột. Từ tình trạng đối kháng tiến lên tình trạng đấu tranh, con người bị áp bức phải đi qua nhiều tiến trình khác nhau, ngày một triệt để và quyết liệt hơn. Bởi vì trong một xã hội bị một thiểu số thống trị, từng người có thể có những hành động đối kháng với ít nhiều kết quả tùy theo phạm vi liên hệ; nhưng đã nói đến đấu tranh, phải nói đến số đông, nói đến một tập thể cùng chia xẻ khát vọng chung. Nói cách khác, trong đấu tranh, ta có hai lực lượng đối đầu nhau: một bên là đại đa số người trong xã hội bị thống trị muốn chấm dứt áp bức để có một đời sống tự do. Một bên là thiểu số thống trị sử dụng bạo lực để luôn luôn duy trì tình trạng sợ hãi và thói quen tuân phục đã có từ lâu của người dân.

10 tháng 12, 2007

Muốn Bảo Vệ Lãnh Thổ: Dân Tộc Việt Nam Phải Vùng Lên

Hoàng Sa
Ngày 19 tháng 1 năm 1974, hải quân Trung Quốc đã cưỡng chiếm quần đảo Hoàng sa dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Trong trận hải chiến không cân sức này, lực lượng hải quân quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu với 58 người đã hy sinh. Ngày 14 tháng 3 năm 1988, hải quân Trung Quốc lại cưỡng chiếm quần đảo Trường Sa. Trong trận hải chiến này cũng đã có 74 binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hy sinh sau những giờ phút chiến đấu dũng cảm. Một tháng sau, ngày 14 tháng 4 năm 1988, Trung Quốc tuyên bố sát nhập hai quần đảo Trường sa và Hoàng sa vào tỉnh Hải Nam. Đầu năm 2000, Trung Quốc đã đặt quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trung Sa nằm gần Phi Luật Tân, thành một cấp gọi là biện sự xứ (tương đương cấp huyện) với tên gọi chính thức là Tây Nam Trung Sa quần đảo biện sự xứ thuộc tỉnh Hải Nam. Ngày 2 tháng 12 năm 2007, nhà cầm quyền Trung Quốc đã chính thức cho thành lập thành phố Tân Sa, nhằm trực tiếp quản lý các quần đảo trên Biển đông, trong đó có hai quần đảo Trường sa và Hoàng sa của Việt Nam. Thật ra, Việt Nam không mất đất hay các quần đảo vào tay Trung Quốc từ tháng 12 năm 2007 mà đã mất từ trước đó, chỉ vì những xuẩn động và yếu hèn của tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam.

07 tháng 12, 2007

Nạn Nhân Vu Khống Mới Nhất Của CSVN: Ông Bà Lê Văn Phan

Ông Lê Văn Phan, nạn nhân vu khống
của CSVN.
Ngày 27 tháng 11 năm 2007, Tổng cục an ninh Bộ công an Cộng sản Việt Nam đã cho phổ biến một bản tin trên tờ Sài Gòn Giải Phóng có nội dung: “Lực lượng an ninh phi trường Tân Sơn Nhất đã bắt khẩn cấp ông Lê Văn Phan, 55 tuổi và bà Nguyễn Thị Thịnh 54 tuổi, là hai Việt Kiều có quốc tịch Mỹ, từ ngày 23 tháng 11, với tang chứng là một khẩu súng ngắn hiệu Ruger và 13 viên đạn nằm trong hành lý nhập cảnh vào Việt Nam trên chuyến bay CX 767”. Tổng cục an ninh CSVN đã nối sự kiện này với việc bắt giữ các đảng viên và cộng tác viên của đảng Việt Tân vào ngày 17 tháng 11 trong lúc họ đang tổ chức quảng bá 7000 ngàn truyền đơn cổ võ đấu tranh bất bạo động và 1000 lôgô của Việt Tân, để dựng lên kịch bản: “Lực lượng an ninh đã bắt khẩn cấp hành vi vận chuyển, sử dụng vũ khí quân dụng trái phép của tổ chức khủng bố Việt Tân”. Liền sau đó, CSVN đã cho các tờ báo, đài phát thanh, truyền hình của chế độ, liên tục lập đi lập lại những nội dung nói trên để nhằm vu cáo đảng Việt Tân là khủng bố, bạo loạn...